Giải pháp CCTV giám sát an ninh

Lịch sử phát triển công nghệ hệ thống camera giám sát an ninh CCTV

Những hệ thống camera giám sát an ninh lần đầu tiên được cài đặt bởi Siemens AG tại Test Stand VII, Peenemünde, Đức vào năm 1942, để quan sát quá trình phóng của tên lửa V-2. Các kỹ sư Đức Walter Bruch chịu trách nhiệm cho việc thiết kế công nghệ và lắp đặt hệ thống. Ở Mỹ, hệ thống camera quan sát thương mại đầu tiên được giới thiệu từ những năm 1949, được gọi là Vericon. Cho đến những năm 1980 áp dụng  cho việc giám sát và ngăn chặn tội phạm thì việc dùng camera quan sát bắt đầu phát triển rộng trên khắp cả nước đặc biệt là ở các khu vực công cộng. Nó được xem như là một cách kinh tế và hiệu quả để ngăn chặn tội phạm so với việc tăng số lượng cảnh sát. Một số doanh nghiệp, văn phòng, nhà máy là mục tiêu thường xuyên của nạn trộm cắp cũng bắt đầu sử dụng camera giám sát. 
 

Cho đến những năm 1990 công nghệ ghép kênh kỹ thuật số, cho phép nhiều camera cùng lúc ghi lại cả âm thanh và hình ảnh đồng thời khiến cho việc sử dụng các camera quan sát phổ biết hơn trên toàn thế giới đồng thời tiết kiệm thời gian và tiền bạc hơn. Những chiếc camera độ phân giải megapixel đầu tiên với độ phân giải 1.4 MP được Kodak giới thiệu đánh dấu sự phát triển  mới và ứng dụng rộng rãi hơn trong việc quan sát người già và trẻ em. Năm 1996 IP camera đầu tiên được hãng Axis giới thiệu với tên gọi Neteye 200. 
  • Năm 2001 Khi World Trade Center bị tấn công, thế giới quan tâm nhiều hơn đến camera dành cho công việc cũng như gia đình. 
  • Năm 2003 công nghệ nhận diện khuôn mặt được áp dụng tại trường Royal Palm Middle School để quản lý học sinh.
  • Năm 2007 97% giao tiếp từ xa được thực hiện trên internet Internet mở ra một kỷ nguyên mới mà chúng ta có thể thấy được sự hiện diện của camera quan sát ở bất cứ nơi đâu.

Lịch sử phát triển camera quan sát đã trải một quá trình hơn 50 năm với xu hướng chuyển dịch dần từ Analog sang Camera IP. Dù camera analog vẫn đang thích nghi từng ngày khi tích hợp thêm các công nghệ kết nối qua Internet, khả năng xử lý và ứng dụng công nghệ tiên tiến. Theo các chuyên gia, công nghệ an ninh đang dần chuyển dịch và ngày càng mạnh mẽ hơn với xu hướng IP hóa thiết bị đầu cuối và hợp nhất các công nghệ truyền dẫn, khả năng giám sát và môi trường đồng nhất cho một hệ thống tích hợp tổng thể được nhiều hãng cung cấp và phát triển.

Các thành phần cơ bản của hệ thống camera giám sát
Hệ thống camera giám sát dù IP hay analog bao gồm các thành phần tương đương nhau tuy nhiên do công nghệ khác nhau nên mỗi loại sẽ có cấu tạo khác nhau cũng như những ưu nhược điểm riêng. Một hệ thống giám sát an ninh bằng hình ảnh cơ bản bao gồm các thành phần sau:

Ống kính (lens)
Là bộ phận quyết định mỗi camera, ống kính đóng vai trò thu nhận tín ánh sáng tập trung trên bộ cảm biến ánh sáng. Ống kính quy định góc mở, góc đứng, ngang độ zoom,… Ống kính bao gồm nhiều loại khác nhau như ống kính cố định, ống kính zoom, ống kính tích hợp camera,…

Camera
Cảm biến ánh sáng chuyển đổi tín hiệu ánh sáng từ ống kính sang tín hiệu điện và hình ảnh thu nhận được truyền dẫn trên cáp. Camera bao gồm nhiều loại có kích thước và hình dạng khác nhau phù hợp với môi trường lắp đặt và ứng dụng cụ thể như camera trong nhà/ngoài trời chống nước.
Đối với hệ thống CCTV, màn hình hiển thị được bỗ trí tập trung và vận hành bởi nhân viên an ninh giám sát 24/7 tùy theo nhu cầu.

Truyền dẫn
Truyền dẫn tín hiệu camera sử dụng cáp đồng trục, cáp xoắn đôi hoặc sử dụng phương thức truyền dẫn không dây. Mỗi phương thước có ưu điểm riêng cho phép tăng khả năng truyền dẫn, thời gian triển khai lắp đặt và giá thành khác nhau. 
Đối với cáp đồng trục khả năng truyền dẫn lên đến 300m sử dụng cáp RG6 hoặc 470m đối với cáp RG11. 
IP camera sử dụng cáp mạng Cat.5e, Cat.6 khoảng cách tối đa về bộ chuyển mạch mạng đạt 100m. Ngoài ra với địa hình thực tế triển khai khoảng cách truyền có thể đạt được hàng trăm km đối với cáp quang hoặc hệ thống truyền dẫn không dây chuyên nghiệp.
 
Thiết bị xử lý và lưu trữ hình ảnh
Thiết bị ghi hình camera độ phân giải cao (NVR/DVR): thực hiện lưu giữ lại tất cả các hình ảnh do camera chụp được, NVR/DVR sẽ tiến hành xử lý dữ liệu như mã hóa, nén theo chuẩn ảnh đã định, lưu trữ,… Chất lượng hình ảnh lưu trữ trên NVR/DVR phụ thuộc vào cấu hình hệ thống như kích thước ảnh, tốc độ ghi chuẩn nén ảnh và tỉ lệ nén. Với mỗi camera có thể cài đặt các chế độ cũng như tiêu chuẩn nén ảnh khác nhau theo mục đích giám sát. Với các khu vực yêu câu tính an ninh cao có thể tăng chất lượng, số khung hình/giây kích thước ảnh. Ngược lại với khu vực ko yêu cầu tính liên tục của hình ảnh có thể giảm các thông số này cho phù hợp.

Khả năng truy cập, điều khiển từ xa để sử dụng hệ thống quan sát từ bất kỳ nơi nào vào bất kỳ thời gian nào bằng việc sử dụng PC, Laptop hoặc PDA qua giao thức IP với hệ thống. 
  • Cho phép quản lý và theo dõi từ xa hoạt động tại các điểm Internet, LAN.
  • Tự động phát hiện và theo dõi chuyển động đồng phát tín hiệu cảnh báo (còi, đèn…) theo lịch tại các khu vực với tùy biến người sử dụng.
  • Giám sát tức thời, trực tiếp, theo dõi từ xa (LAN,WAN,Internet) hoạt thông qua giao diện đồ họa giao tiếp người –máy trực quan, thân thiện.
  • Hỗ trợ các tiêu chuẩn hình ảnh thông dụng.
  • Chất lượng hình ảnh giám sát (độ phân giải., tốc độ hình/giây v.v…) có thể điều chỉnh 
  • Tìm kiếm và chiết xuất hình ảnh theo dõi dựa theo các tham số như:
  1. Thời gian, ngày tháng
  2. Vị trí đặt camera
  • Có thể tính toán lựa chọn và mở rộng nhu cầu lưu lữ phù hợp với thực tế.
  • Khả năng truy nhập và theo dõi hình ảnh ở bất cứ vị trí nào trên mạng với chế độ phân quyền hợp lý.
  • Hệ thống phần mềm ghi hình ảnh có hiệu suất hoạt động cao và chất lượng hình ảnh ổn định
  • Nhiều chế độ ghi hình linh hoạt:
  1. Theo chuyển động đặt trước (motion detect)
  2. Theo thời gian (time-based)
  3. Theo sự kiện (event)
  4. Theo tín hiệu đầu dò riêng (input sensor)
  5. Mở rộng kết nối với các hệ thống khác như kiểm soát vào ra,…

 
Màn hình hiển thị
Đối với hệ thống CCTV, màn hình hiển thị được bỗ trí tập trung và vận hành bởi nhân viên an ninh giám sát 24/7 tùy theo nhu cầu.
 

Camera IP (công nghệ số hóa chuẩn IP)
Camera IP là loại camera có hình ảnh được số hóa, xử lý và mã hóa từ bên trong máy, sau đó truyền tải hình ảnh tín hiệu số qua một kết nối Ethernet về máy tính hoặc một thiết bị lưu trữ tín hiệu số.  Camera IP có thể sử dụng cả hai loại cảm biến CMOS hoặc CCD, và cũng có nhiều kiểu tương tự các dòng camera truyền thống như: camera quay quét (PTZ camera), camera bán cầu, camera thân trụ, hộp, hồng ngoại và không dây.

Camera IP thường được tích hợp sẵn một giao diện web để có thể truy cập và điều khiển dựa trên một địa chỉ IP xác định thông qua mạng WAN, LAN hoặc Internet. Bằng cách sử dụng trình duyệt web tiêu chuẩn, khách hàng hoặc người sử dụng có thể xem hình ảnh của camera IP từ bất cứ nơi đâu. IP camera sử dụng cáp tín hiệu mạng Cat.5, Cat.6 cho phép kết nối trực tiếp thiết bị chuyển mạch mạng (switch) và truyền tín hiệu hình ảnh tới bộ lưu trữ mạng (NVR), máy trạm hoặc cá thiết bị giám sát khác như điện thoại đi động, máy tính kết nối mạng…

Cấu hình hệ thống IP CCTV điển hình

Thông tin về Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại Thăng Long (TLSC) 
TLSC là nhà tích hợp - tư vấn, cung cấp, lắp đặt và vận hành Hệ thống CCTV và các giải pháp an ninh chuyên nghiệp hàng đầu tại Việt Nam với hệ thống quản trị chất lượng hiện đại theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2015, ISO 20000:2011,... Ngoài ra chúng tôi cũng là đối tác phân phối và đại diện ủy quyền của một số hãng công nghệ hàng đầu trên thế giới như beyerdynamic GmbH & Co. KG (CHLB Đức), Motorola Solutions (USA), Veilux Inc. (USA),... 

Địa chỉ liên hệ:
Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại Thăng Long
  • Phòng 302-G4, Trung Yên, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam ​
  • Email: contact@tlsc.com.vn
  • Tel:  +84 (24) 6252-6565 
  • Fax: +84 (24) 6282-2617

(090) 205-0101